.jpg)
Tổ chức Forest Trends vừa công bố báo cáo “Dữ liệu vùng trồng của các ngành hàng: Từ tuân thủ EUDR đến hạ tầng chiến lược của ngành nông nghiệp Việt Nam”, cho rằng vấn đề hiện nay không phải Việt Nam thiếu dữ liệu về đất đai và sản xuất nông nghiệp, mà là dữ liệu đang phân mảnh, thiếu đồng nhất và chưa liên thông giữa cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và các cấp quản lý. Báo cáo do chuyên gia Tô Xuân Phúc thực hiện, công bố tháng 8/2026, trên cơ sở trao đổi với các chuyên gia, cán bộ quản lý, doanh nghiệp và kinh nghiệm từ hoạt động thí điểm xây dựng cơ sở dữ liệu vùng trồng cà phê đáp ứng Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) tại Sơn La và Điện Biên. Theo báo cáo, Nhà nước hiện có nhiều nguồn dữ liệu như địa chính, quy hoạch sử dụng đất, dữ liệu rừng và vùng trồng; trong khi nhiều doanh nghiệp cũng chủ động thu thập thông tin từ nông hộ phục vụ truy xuất nguồn gốc và chứng nhận bền vững. Tuy nhiên, việc thiếu kết nối khiến tại một số địa phương xảy ra tình trạng nhiều doanh nghiệp cùng thu thập dữ liệu từ một địa bàn hoặc một nông hộ, làm gia tăng chi phí và lãng phí nguồn lực.
Áp lực hoàn thiện dữ liệu vùng trồng ngày càng rõ nét khi các thị trường xuất khẩu yêu cầu sản phẩm phải có đầy đủ thông tin về nguồn gốc và quá trình sản xuất, cụ thể là EUDR. Đối với Việt Nam, cà phê, gỗ và cao su là ba ngành hàng xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) chịu tác động trực tiếp; thị trường này chiếm gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê, khoảng 4-5% đối với gỗ và 8-9% đối với cao su. Để đáp ứng yêu cầu truy xuất, dữ liệu vùng trồng cần bao gồm thông tin về tọa độ hoặc ranh giới lô đất, diện tích, loại cây trồng, năm trồng, lịch sử quyền sử dụng đất, tình trạng pháp lý và thông tin nông hộ. Việc xây dựng các bộ dữ liệu này cũng phát sinh chi phí đáng kể; tại một số doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên, chi phí thu thập bình quân khoảng 5-7 USD/ha và có trường hợp lên tới 30 USD/ha, trong khi tại các địa phương chưa có dữ liệu địa chính, chi phí có thể cao hơn đáng kể.
Tuy nhiên, báo cáo nhấn mạnh dữ liệu vùng trồng không nên chỉ được xem là công cụ phục vụ tuân thủ EUDR hay các yêu cầu riêng lẻ của thị trường, mà cần trở thành hạ tầng dữ liệu dùng chung của ngành nông nghiệp. Một hệ thống dữ liệu đầy đủ và được cập nhật có thể đồng thời hỗ trợ truy xuất nguồn gốc, quản lý ngành hàng, hoạch định chính sách, theo dõi diện tích và sản lượng, xác định nhu cầu tái canh, hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đối với nông hộ, dữ liệu về đất đai và quá trình sản xuất cũng có thể trở thành một tài sản giúp tăng khả năng tiếp cận thị trường, tín dụng, bảo hiểm và các chương trình hỗ trợ; về lâu dài còn có thể tạo nền tảng để tham gia thị trường tín chỉ các-bon. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất xây dựng cơ chế hợp tác công – tư, trong đó Nhà nước đóng vai trò đầu mối, cung cấp dữ liệu nền tảng và đầu tư hạ tầng; doanh nghiệp chia sẻ dữ liệu trong phạm vi vùng nguyên liệu của mình; nông hộ cung cấp, xác nhận và cập nhật thông tin khi có biến động; các tổ chức phát triển hỗ trợ về tài chính, công nghệ, tiêu chuẩn và phương pháp.
Để hệ thống vận hành hiệu quả, báo cáo đề xuất một số nguyên tắc nền tảng, gồm mỗi nông hộ và mỗi thửa đất có mã định danh thống nhất; dữ liệu được “thu thập một lần, sử dụng nhiều lần”; thông tin phải được cập nhật tại nguồn khi có thay đổi và có khả năng kết nối xuyên suốt từ đất đai, nông hộ, vùng trồng đến doanh nghiệp và thị trường. Đồng thời, quản trị dữ liệu cần quy định rõ quyền truy cập, sử dụng, chia sẻ, trách nhiệm cập nhật và xác minh, bảo mật dữ liệu cá nhân cũng như phân biệt giữa dữ liệu phục vụ quản lý Nhà nước và dữ liệu thương mại nhạy cảm của doanh nghiệp. Báo cáo cũng lưu ý pháp luật hiện hành chưa bắt buộc doanh nghiệp phải chia sẻ dữ liệu với cơ quan quản lý, vì vậy cần xây dựng cơ chế khuyến khích phù hợp thay vì áp dụng mệnh lệnh hành chính. Theo Forest Trends, EUDR nên được xem là bước khởi đầu chứ không phải điểm kết thúc: từ yêu cầu tuân thủ thị trường, Việt Nam có thể tiến tới xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia dùng chung về đất đai, nông hộ và vùng sản xuất, trở thành nền tảng quản trị chiến lược của ngành nông nghiệp trong dài hạn.
Văn phòng HHCSVN tổng hợp (Hồng Vân)