Thị trường các-bon mở ra cơ hội biến kết quả giảm phát thải thành nguồn lực tài chính. Tuy nhiên, một dự án “xanh” chưa chắc là dự án các-bon hấp dẫn.
Bốn điều kiện quyết định khả năng thu hút vốn
Từ thực tế đầu tư tại Việt Nam, ông Nguyễn Ngọc Tùng, CFA, Giám đốc Quỹ Tác động Khí hậu VinaCarbon thuộc VinaCapital, cho biết nhà đầu tư quốc tế thường xem xét 4 nhóm yếu tố chính khi lựa chọn dự án các-bon.
Nhà đầu tư quốc tế thường xem xét 4 nhóm yếu tố
chính khi lựa chọn dự án các-bon. Ảnh: Tùng Đinh
Trước hết là chất lượng tín chỉ. Nhà đầu tư cần biết tín chỉ được tạo ra từ hoạt động nào, áp dụng phương pháp đo đạc ra sao, có đáp ứng tiêu chuẩn được công nhận và được thẩm định, xác minh độc lập hay không. Đây là cơ sở xác định tín chỉ có thực sự đại diện cho lượng khí nhà kính được cắt giảm hoặc loại bỏ khỏi khí quyển. Nếu phương pháp tạo tín chỉ thiếu tin cậy, đường cơ sở không rõ hoặc kết quả giảm phát thải không thể kiểm chứng, tín chỉ sẽ có giá trị thương mại thấp, thậm chí không đủ điều kiện giao dịch. Khả năng kết nối với từng thị trường cũng rất quan trọng. Tín chỉ được công nhận trong thị trường tự nguyện chưa chắc được chấp nhận trong thị trường tuân thủ hoặc đủ điều kiện chuyển giao quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Vì vậy, ngay từ khi thiết kế dự án, doanh nghiệp cần xác định rõ tiêu chuẩn áp dụng, người mua tiềm năng và thị trường hướng tới.
Thứ hai là hiệu quả và tính bền vững của dự án. Tín chỉ các-bon nên được xem là nguồn thu bổ sung, không phải nguồn tài chính duy nhất duy trì dự án. Với dự án xử lý chất thải, nhà đầu tư sẽ xem xét doanh thu từ xử lý rác, sản xuất điện, thu hồi vật liệu hoặc sản phẩm tái chế có đủ để bảo đảm hoạt động hay không. Nếu dự án chỉ có thể vận hành nhờ tiền bán tín chỉ, rủi ro sẽ lớn do giá các-bon có thể biến động, tiêu chuẩn thay đổi và lượng tín chỉ được cấp có thể thấp hơn dự kiến. Nền tảng kinh doanh càng vững, tín chỉ các-bon càng phát huy đúng vai trò là phần giá trị gia tăng từ kết quả giảm phát thải.
Với dự án các-bon rừng, bài toán phức tạp hơn. Nhà đầu tư phải làm rõ quyền sử dụng đất, quyền quản lý rừng, quyền hưởng lợi từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon cũng như quyền quyết định đối với tín chỉ. Nếu phạm vi rừng chồng lấn, hồ sơ đất đai thiếu thống nhất hoặc quyền hưởng lợi chưa rõ, dự án có thể phát sinh tranh chấp và khó hoàn thành thẩm định. Dự án rừng cũng phải kiểm soát nguy cơ mất rừng, cháy rừng, suy thoái hoặc khai thác ngoài kế hoạch. Những rủi ro này có thể làm lượng các-bon đã hấp thụ quay trở lại khí quyển, ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị tín chỉ. Vì vậy, nhà đầu tư không chỉ quan tâm diện tích rừng mà còn đánh giá phương án bảo vệ, giám sát và duy trì kết quả trong nhiều năm.
Thứ ba là khả năng sinh lời sau khi tính đủ chi phí. Doanh thu từ tín chỉ không hoàn toàn thuộc về chủ dự án. Quá trình triển khai phát sinh nhiều khoản như khảo sát, xây dựng hồ sơ, áp dụng phương pháp luận, đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh, đăng ký và giám sát định kỳ. Với dự án rừng, chi phí còn bao gồm bảo vệ, phục hồi và phát triển rừng; quản lý rủi ro; chia sẻ lợi ích với người dân, cộng đồng, chủ rừng và các bên liên quan. Sau khi trừ toàn bộ chi phí và phần lợi ích phải phân chia, doanh thu còn lại phải đủ hấp dẫn để nhà đầu tư bỏ vốn và đồng hành lâu dài.
Quy mô dự án vì thế trở thành yếu tố quan trọng. Theo ông Nguyễn Ngọc Tùng, trong mô hình đánh giá của VinaCarbon, dự án các-bon rừng có quy mô khoảng 5.000 ha trở lên mới có khả năng đạt hiệu quả kinh tế. Diện tích quá nhỏ thường tạo ra ít tín chỉ, trong khi chi phí lập hồ sơ, thẩm định, xác minh và quản lý không giảm tương ứng. Tuy nhiên, ông lưu ý 5.000 ha chỉ là ngưỡng tham khảo trong mô hình đầu tư của VinaCarbon, không phải điều kiện pháp lý áp dụng chung. Hiệu quả thực tế còn phụ thuộc loại rừng, trữ lượng các-bon, mức tăng hấp thụ, chi phí quản lý, phương pháp tạo tín chỉ và giá bán dự kiến.
Cuối cùng là năng lực triển khai của doanh nghiệp. Một dự án có thể hấp dẫn trên hồ sơ nhưng vẫn thất bại nếu đơn vị thực hiện thiếu nhân lực, công nghệ, tài chính hoặc năng lực phối hợp với địa phương, cộng đồng và cơ quan quản lý. Dự án các-bon cũng không kết thúc sau khi được đăng ký. Chủ dự án phải duy trì đo đạc, báo cáo, thẩm định, quản lý dữ liệu, theo dõi rủi ro và chứng minh kết quả giảm phát thải qua từng kỳ. Với dự án kéo dài hàng chục năm, khả năng duy trì bộ máy và nguồn lực quan trọng không kém tiềm năng tạo tín chỉ ban đầu.
Do đó, nhà đầu tư thường đánh giá đồng thời kinh nghiệm đội ngũ quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ, chất lượng dữ liệu, năng lực tài chính và khả năng thực hiện cam kết với các bên liên quan. Uy tín và lịch sử triển khai của doanh nghiệp cũng tác động trực tiếp đến quyết định đầu tư. Theo ông Tùng, doanh nghiệp không nên chỉ coi tín chỉ các-bon là một nguồn thu. Một dự án chỉ thực sự hấp dẫn khi có nền tảng kinh tế vững chắc, tạo ra kết quả giảm phát thải có thể kiểm chứng, phân chia lợi ích minh bạch và đủ năng lực duy trì lâu dài. Khi hội tụ các điều kiện này, tín chỉ các-bon mới trở thành giá trị gia tăng và giúp dự án thu hút nguồn vốn bền vững.
Áp lực tuân thủ đang mở ra thị trường mới
Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Việt Nam có lợi thế khi sớm cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và từng bước hoàn thiện nền tảng pháp lý cho thị trường các-bon. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cùng các quy định về kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải, phân bổ hạn ngạch và trao đổi tín chỉ đã tạo cơ sở để doanh nghiệp tham gia thị trường trong nước, kết nối quốc tế. Việt Nam cũng nhận được sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Tài chính quốc tế và các đối tác phát triển trong xây dựng chính sách, nâng cao năng lực và triển khai dự án.
Tuy nhiên, doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn từ Cơ chế điều chỉnh biên giới các-bon của EU (CBAM) và Cơ chế giảm, bù đắp các-bon đối với hàng không quốc tế (CORSIA). CBAM tác động trực tiếp đến các ngành phát thải cao như sắt thép, xi măng, nhôm, điện, phân bón và hydro, buộc doanh nghiệp phải kiểm kê, báo cáo và giảm phát thải trong quá trình sản xuất. Trong lĩnh vực hàng không, CORSIA dự kiến làm tăng nhu cầu tín chỉ đủ điều kiện. Theo ước tính tại tọa đàm, Việt Nam có thể thiếu khoảng 2,3 triệu tín chỉ, tương ứng 92 triệu USD nếu giá ở mức 40 USD mỗi tấn.
Sức ép tuân thủ cũng mở ra cơ hội. Doanh nghiệp chuẩn bị sớm dữ liệu, kế hoạch giảm phát thải và dự án tín chỉ sẽ có lợi thế tiếp cận vốn xanh, đáp ứng yêu cầu quốc tế. Tín chỉ các-bon vì thế cần được xem là giá trị bổ sung cho dự án có nền tảng kinh tế vững chắc, minh bạch và khả năng vận hành lâu dài. Từ góc nhìn nhà đầu tư, thông điệp quan trọng là doanh nghiệp không nên bắt đầu bằng câu hỏi “bán tín chỉ được bao nhiêu tiền”. Câu hỏi đúng hơn là dự án giải quyết vấn đề môi trường nào, tạo kết quả giảm phát thải ra sao, có thể tồn tại bằng nguồn thu chính hay không và mang lại lợi ích thế nào cho cộng đồng.
Khi dự án có nền tảng kinh tế vững chắc, dữ liệu minh bạch, quyền lợi rõ ràng và đội ngũ đủ năng lực, tín chỉ các-bon sẽ trở thành phần giá trị gia tăng. Đây mới là cơ sở để biến nghĩa vụ môi trường thành cơ hội đầu tư và duy trì dự án lâu dài.
Nguyễn Thủy - Tùng Đinh, nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/nha-dau-tu-can-gi-o-du-an-cac-bon-d826894.html, ngày 19/8/2026 (TN trích dẫn)