Hoạt động >> Hoạt động khác

Phối hợp tổ chức Hội thảo trực tuyến “Cơ hội thị trường tín chỉ các-bon đối với ngành cao su Việt Nam”

25/08/2026

Ngày 11/8/2026, Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA) phối hợp với Forest Trends tổ chức Hội thảo trực tuyến “Cơ hội thị trường tín chỉ các-bon đối với ngành cao su Việt Nam”, thu hút gần 100 đại biểu từ cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức chuyên môn, doanh nghiệp cao su và các đơn vị quan tâm. Trong bối cảnh thị trường tín chỉ các-bon mở ra cơ hội mới nhưng cũng đặt ra nhiều yêu cầu về chính sách, điều kiện tham gia và khả năng triển khai, Hội thảo cung cấp thông tin về thị trường các-bon, cơ chế và chính sách của Việt Nam, các loại hình dự án các-bon rừng phù hợp với ngành cao su; đồng thời trao đổi những cơ hội, thách thức và điều kiện triển khai trong thực tế.
 


Theo bà Nghiêm Phương Thúy, đại diện Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, thị trường các-bon gồm thị trường tuân thủ, thị trường tự nguyện và các cơ chế hợp tác quốc tế khác. Thị trường tuân thủ phát sinh từ nghĩa vụ pháp lý, bao gồm hệ thống giao dịch phát thải (ETS); thị trường tự nguyện dựa trên nhu cầu chủ động mua, sử dụng tín chỉ của doanh nghiệp, tổ chức. Ngoài ra còn có các cơ chế theo Điều 6.2, Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và CORSIA đối với hàng không quốc tế. Tín chỉ trên thị trường tự nguyện thường được cấp theo các chương trình, tiêu chuẩn độc lập và có thể được chấp nhận trong một số thị trường tuân thủ hoặc cơ chế khác. Thị trường tự nguyện quốc tế hiện chuyển từ ưu tiên khối lượng sang chất lượng, trong đó tín chỉ rừng có tính toàn vẹn cao thường được định giá cao hơn.
Tại Việt Nam, khung chính sách về thị trường các-bon và các-bon rừng đang được hoàn thiện, với Nghị định số 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; Nghị định số 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch các-bon trong nước; Nghị định số 112/2026/NĐ-CP về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (KNK) và tín chỉ các-bon; cùng Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP. Việt Nam áp dụng ETS và cho phép sử dụng tín chỉ để bù trừ một phần lượng phát thải vượt hạn ngạch; các đơn vị vẫn phải thực hiện biện pháp giảm phát thải.
Tiếp nối chương trình, TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững (VFCC), cho biết sàn giao dịch các-bon trong nước được tổ chức theo phương thức tập trung. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội trực tiếp tổ chức, vận hành hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải và tín chỉ các-bon; Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam giám sát hoạt động giao dịch; Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam phụ trách đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh toán. Cơ chế phân công này nhằm bảo đảm các giao dịch trên sàn được tổ chức thống nhất, công khai và minh bạch.

Đối với việc thương mại tín chỉ các-bon lâm nghiệp trên thị trường trong nước hoặc xây dựng dự án các-bon, các đơn vị cần lưu ý tuân thủ Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14682:2026, áp dụng cho tín chỉ các-bon rừng, trong đó có rừng trồng cao su. Dự án phải bảo đảm quyền sử dụng đất và rừng hợp pháp; ranh giới rõ ràng trên bản đồ; có tính bổ sung, không trùng lặp; dữ liệu tính toán đầy đủ, chính xác, nhất quán và minh bạch. Quy trình gồm xây dựng văn kiện, thẩm định, đăng ký, triển khai biện pháp kỹ thuật, đo đạc, lập báo cáo, thẩm định và xác minh trước khi cấp tín chỉ. Trong suốt chu kỳ dự án, số liệu cần theo dõi, cập nhật và lưu trữ để phục vụ thẩm định, xác minh. Yếu tố cốt lõi là tạo ra mức giảm phát thải KNK từ hoạt động sản xuất hoặc tăng hấp thụ các-bon thông qua nâng cao sinh khối và chất lượng rừng so với kịch bản không thực hiện dự án. Lượng tín chỉ tiềm năng được xác định từ chênh lệch giữa mức tham chiếu và kết quả giảm phát thải, tăng hấp thụ của dự án.

 

Đối với ngành cao su, cần xem xét đồng thời phát thải và hấp thụ các-bon. Hoạt động làm đất, chăm sóc, khai thác, vận chuyển và chế biến mủ phát sinh phát thải, trong khi vườn cây có khả năng hấp thụ các-bon nhờ gia tăng sinh khối. Hai loại hình dự án tiềm năng là Quản lý rừng cải tiến (IFM-P) đối với rừng cao su trồng trên đất lâm nghiệp và Nông lâm kết hợp (AF) đối với cao su trồng trên đất cây lâu năm, có kết hợp cây lâm nghiệp.
Dự án hiệu quả cần lấy giảm phát thải KNK trong chuỗi sản xuất làm trọng tâm, kết hợp gia tăng hấp thụ các-bon như một yếu tố bổ sung. Việc tham gia dự án giúp doanh nghiệp chứng minh khả năng bù trừ phát thải trong chuỗi sản xuất thông qua cải thiện quản lý rừng trồng; minh bạch lượng phát thải để đáp ứng yêu cầu của khách hàng và thị trường; nâng cao giá trị thương hiệu; đồng thời có thể tạo nguồn thu bổ sung từ bán tín chỉ. Đây là cơ sở để đánh giá hiệu quả dự án.
Từ góc nhìn doanh nghiệp, ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội KHCN, Tổng Công ty Cao su Đồng Nai, nêu một số vướng mắc khi tiếp cận thị trường tín chỉ các-bon. Về tư cách pháp lý và phân loại đất, nhiều diện tích cao su của doanh nghiệp nhà nước nằm trên đất được Nhà nước cho thuê để trồng cây lâu năm, không phải đất lâm nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần làm rõ vườn cao su có phù hợp với IFM-P và đơn vị thuê đất có đủ tư cách đăng ký dự án các-bon rừng hay không.
Một khó khăn khác là sự không trùng khớp giữa diện tích được chứng nhận và quy hoạch sử dụng đất: khu vực có chứng chỉ quản lý rừng bền vững có thể nằm trong quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất, trong khi diện tích ổn định dài hạn lại chưa được chứng nhận. Bên cạnh yêu cầu về thời gian cam kết, doanh nghiệp còn phải chứng minh tính bổ sung. Do nhiều quy trình kỹ thuật về giống, phân bón, quản lý thực bì và chống xói mòn đã được áp dụng ổn định trong nhiều năm, cần xác định rõ phần can thiệp mới, tăng thêm so với kịch bản cơ sở để tạo tín chỉ.
Phản hồi ý kiến doanh nghiệp, TS. Vũ Tấn Phương cho rằng diện tích cao su không nằm trên đất lâm nghiệp nên được xem xét theo mô hình AF thay vì IFM-P. Tuy nhiên, với vườn cao su có sinh khối lớn và được quản lý tốt, dư địa tạo thêm tín chỉ từ sinh khối có thể không nhiều. Vì vậy, doanh nghiệp cần xác định rõ mục tiêu: kinh doanh tín chỉ hay hướng tới sản xuất xanh, phát thải thấp và nâng cao giá trị thương hiệu, từ đó lựa chọn cách tiếp cận và xây dựng dự án phù hợp. Mục tiêu lựa chọn sẽ chi phối phương pháp, quy mô đầu tư, chi phí theo dõi và phương án tiêu thụ tín chỉ. Khi nhận diện rủi ro như thu hồi hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, dự án cũng cần có phương án dự phòng và khấu trừ một phần tín chỉ khi giao dịch nhằm bảo đảm nghĩa vụ đã cam kết.
Thảo luận tại Hội thảo cho thấy doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến tiềm năng của thị trường các-bon mà đã đặt ra những vấn đề cụ thể về tính khả thi, cơ sở pháp lý, dữ liệu, chi phí, phương pháp tính toán và đầu ra của tín chỉ. Các nội dung này cần tiếp tục được nghiên cứu, hướng dẫn để doanh nghiệp cao su có cơ sở đánh giá khả năng tham gia trong bối cảnh yêu cầu giảm phát thải và chuỗi cung ứng bền vững ngày càng gia tăng.

Văn phòng HHCSVN tổng hợp (Hương Giang) 



Quay về

THÔNG TIN LIÊN QUAN

Xem tất cả >>