Tin tức >> Khoa học Công nghệ

Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chế biến mủ cao su

23/12/2015

 A. CHẾ BIẾN MỦ SVR 3L VÀ SVR 10, SVR 20

I. CHẾ BIẾN MỦ SVR 3L
1. Hiện trạng
Hiện nay, các công ty chế biến sản phẩm SVR 3L hầu hết đều đạt các chỉ tiêu theo TCVN 3769:2004 với tỷ lệ trên 95%. Tuy nhiên, chỉ tiêu màu Lovibond theo ngoại quan từ 4,5 – 6 là màu sậm (trong TCVN 3769:2004, chỉ tiêu màu từ 2 – 6), điều này thường ảnh hưởng tới thị hiếu khách hàng.

 2. Nguyên nhân

Màu sậm do nhiều nguyên nhân gây ra, thường là do giống cây, đánh đông, gia công cơ học, quá trình sấy và đặc biệt là do serum không rửa được hết. Hiện nay, việc sẫm màu thường do bọt serum còn giữ lại trong hồ cốm quá nhiều nên bọt sẽ theo hạt cốm cao su vào thùng sấy trolley. Sau khi sấy, mủ có hiện tượng sẫm màu, nhất là ở phần đáy của bành mủ.
3. Khắc phục
Để giảm sẫm màu, cần giảm bọt ở hồ cốm bằng cách:
– Thay hồ cốm 3 ngăn bằng hồ cốm thẳng để dễ dàng trong việc tách bọt serum ra khỏi hồ cốm;
– Dùng tia nước đẩy bọt ra ngoài: lắp vòi xịt nước trên hồ cốm đẩy bọt ra ngoài hồ cốm qua miệng hồ cốm. Chú ý: không dùng vòi xịt nước hạ bọt serum trong hồ cốm. Đặc biệt, không được áp dụng các biện pháp như dùng dầu cao su để hạ bọt serum và phun nước sau sàn rung để cải thiện màu.
II. CHẾ BIẾN MỦ SVR 10, SVR 20
1.Hiện trạng
Hiện nay, sản phẩm SVR 10, SVR 20 bị rớt hạng thường là do 2 chỉ tiêu tạp chất và chỉ số PRI (Plasticity Retention Index – Chỉ số duy trì độ dẻo). Đây là 2 chỉ tiêu quan trọng trong chất lượng sản phẩm SVR 10, SVR 20 và thường được khách hàng quan tâm.
2. Nguyên nhân
a. Tạp chất: Phụ thuộc rất nhiều vào công nghệ gia công cơ học. Đặc biệt, việc phân loại và kiểm soát nguyên liệu đầu vào là yếu tố quan trọng.
b. Chỉ số PRI: Chịu ảnh hưởng phần lớn bởi phương pháp đông tụ, quá trình sấy và quá trình lưu trữ.
- Quá trình sấy: Khi sấy, cao su sẽ diễn ra 2 phản ứng nối mạch (liên kết ngang) các chuỗi cao su và quá trình oxy hóa. Nhiệt độ sấy cao và thời gian ngắn không ảnh hưởng đến PRI. Ngược lại, nhiệt độ cao và thời gian dài sẽ làm giảm PRI.
- Quá trình lưu trữ: Lưu trữ nguyên liệu mủ đông sẽ làm tăng Vr (độ nhớt Mooney) và quá trình oxy hoá, vì vậy ảnh hưởng đến PRI. Đặc biệt, nếu lưu trữ ngoài nắng, nguyên liệu bị ánh nắng trực tiếp sẽ lão hoá nhanh, do đó, nếu lưu trữ ngoài trời cần phun nước (lưu trữ ướt để hạn chế quá trình oxy hóa).
3. Khắc phục
Để làm tăng chỉ tiêu PRI, có các biện pháp sau:
– Cán sơ bộ (vắt nước): nguyên liệu được cán sơ bộ và lưu trữ trong khu vực có mái che, không phun nước (lưu trữ khô). Quá trình này làm đồng nhất nguyên liệu về trạng thái lưu trữ, hạn chế quá trình lên men và góp phần ổn định PRI. Chú ý, trong quá trình lưu trữ cần đảo trộn nguyên liệu để tăng sự khô đồng đều của nguyên liệu;
- Cải thiện chỉ tiêu PRI bằng xử lý hóa chất: các acid như acid phosphoric, acid oxalic, acid thiuorea được dùng để cải thiện chỉ tiêu PRI. Trong đó, acid phosphoric được dùng phổ biến nhất bằng cách ngâm hoặc phun bề mặt.
Phương pháp đề nghị:
+ Cho acid phosphoric vào hồ Shredder 1 với tỷ lệ 0,5% để ngâm;
+ Phun acid phosphoric tỷ lệ 0,5% vào trolley trước khi sấy.
4. Gia công cơ học.
Quá trình gia công cơ học được chia làm 02 phần: phương pháp và thiết bị. Hai phần này đều có ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sản phẩm.
a.    Phương pháp gia công cơ học
Hiện nay, gia công cơ học được phân chia thành gia công liên tục và gia công gián đoạn. Mỗi loại đều có ưu khuyết điểm riêng. Tuỳ theo điều kiện của công ty mà có thể áp dụng một trong hai phương pháp này.
Ngoài ra, để gia công cơ học được tốt hơn, việc gia công sơ bộ cần được quan tâm để nguyên liệu mủ đông được cán vắt nước khi về đến nhà máy, tạo điều kiện tốt cho quá trình lưu trữ đồng nhất, giảm thiểu mùi hôi, gia công cưa cắt và ổn định PRI do:
- Gia công sơ bộ loại bỏ khoảng 25-35% lượng nước serum ban đầu – tăng tính đồng nhất về hàm lượng DRC của khối mủ đông. Tạo điều kiện tốt các công đoạn sau và tăng chất lượng sản phẩm;
- Bình quân giảm 50% thể tích và 30% trọng lượng, giảm chi phí nhân công cưa cắt và vận chuyển;
- Hạn chế quá trình lên men.
Do đó, nếu trang bị được hệ thống cán sơ bộ tại trạm thu mủ ở vườn cây sẽ góp phần giảm chi phí chuyên chở và giảm mùi hôi.
b. Thiết bị
Phần thiết bị chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong quá trình chế biến là trong giai đoạn gia công cơ học. Việc tạo tờ và tạo hạt cốm được ổn định phần lớn là do thiết bị quyết định. Do đó, để công đoạn gia công cơ học hoạt động ổn định cần cải tạo các phần sau:
- Thay thiết bị nạp nguyên liệu cho máy Rotary Cutter: Thiết bị nạp liệu bằng tải gàu có đặc điểm nạp liệu gián đoạn với số lượng lớn nên máy làm việc với tải trọng động lớn, không ổn định, làm sụp áp trong dây chuyền. Vì vậy, máy sẽ mau hỏng phần cơ-điện, tiêu thụ điện lớn và làm dây chuyền chế biến hoạt động kém ổn định. Để khắc phục điểm này, cần thay thế thiết bị nạp liệu tải gàu bằng băng tải có gờ hoặc trục vít tải, những thay đổi này nhằm nạp liệu cho thiết bị với tải nhỏ và đều;
 – Thay thiết bị nạp liệu cho máy cán 3 trục: Thay gàu tải nạp liệu cho máy cán 3 trục bằng bơm cốm và sàn rung. Điều này làm giảm nhân công và nạp liệu đều hơn nên tạo tờ ở máy cán tốt và ổn định hơn;
- Cải tạo thiết bị cán tạo tờ: tạo tờ là công đoạn quan trọng ảnh hưởng tới công suất dây chuyền và chất lượng sản phẩm. Hiện nay, việc tạo tờ bằng máy cán 2 trục có thanh nén thường tạo tờ không ổn định, hiệu suất thấp, làm ảnh hưởng tới chất lượng cán. Đề nghị thay thiết bị máy cán 2 trục có thanh nén bằng máy cán 3 trục để khắc phục các khuyết điểm trên. Tuy nhiên, máy cán 3 trục có khuyến điểm là chi phí chế tạo cao hơn;
- Cải tiến dao cắt cho máy Rotary Cutter: Hiện nay thường sử dụng máy băm búa Hammermill, do thiết kế đầu dao, số lượng dao băm, lưới dao (dao tĩnh) nên máy băm búa sinh ra tải trọng lớn khi băm, máy làm việc ồn và kém hiệu quả. Để khắc phục, sử dụng dao băm máy cắt Rotary Cutter được cải tiến về biên dạng dao, số lượng dao, lưới dao nên làm việc hiệu quả hơn.


Quay về

THÔNG TIN LIÊN QUAN

Xem tất cả >>